3:29 sáng - Chủ Nhật Tháng Mười Hai 15, 2019

Tiềm năng của thị trường Bảo hiểm Việt Nam

BAOVIET Fund ký kết hợp đồng Bảo hiểm Trách nhiệm nghề nghiệp

BAOVIET Fund ký kết hợp đồng Bảo hiểm Trách nhiệm nghề nghiệp

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG

TIỀM NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Cổ Minh Đức

Giám đốc Khu vực Châu Á

Tập đoàn Bảo hiểm Prévoir

Năm 2002, tốc độ GDP của Việt Nam đạt mức 7,04%, đứng thứ hai trong khu vực, chỉ sau Trung Quốc. Đây là một môi trường kinh tế rất thuận lợi cho lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ phát triển, nhất là trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ của Việt Nam mới được hình thành và phát triển trong vòng 5-6 năm trở lại đây. Các nghiên cứu cho thấy có một mối liên hệ giữa tốc độ tăng GDP và tốc độ phát triển của bảo hiểm nhân thọ tại các thị trường phát triển, đó là nếu GDP tăng 1% thì bảo hiểm nhân thọ có tiềm năng tăng trưởng từ 3-4%.

Nhìn lại quá trình phát triển của bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam, từ năm 1996 khi công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Việt Nam là Bảo Việt Nhân thọ ra đời, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, trưởng thành nhanh chóng và đạt được những thành công lớn. Cụ thể là:

Doanh thu phí và số lượng hợp đồng đạt tốc độ tăng trưởng rất cao. Nếu như năm 1996 Bảo Việt mới triển khai thí điểm bảo hiểm nhân thọ tại một số tỉnh thành phố và đạt được kết quả khá khiêm tốn với trên 1.200 hợp đồng và doanh thu phí chưa đến 1tỷ đồng thì đến năm 2002 tổng doanh thu phí trên toàn thị trường đã đạt mức 4.615 tỷ đồng với hơn 1.300.000 hợp đồng được khai thác mới.

Các công ty tham gia thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng tăng đáng kể, nhất là từ khi Bộ Tài chính thực hiện chính sách mở cửa đối với lĩnh vực bảo hiểm. Cho đến nay toàn thị trường đã có 5 công ty bảo hiểm nhân thọ, trong đó có 3 công ty 100% vốn nước ngoài, 1 công ty liên doanh và 1 công ty Việt Nam. Sự hiện diện của các công ty bảo hiểm thuộc các hình thức đa dạng này đã có tác động tích cực lên sự phát triển thị trường trên những khía cạnh sau:

–      Tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động là những đại lý bảo hiểm chuyên nghiệp. Tính cho đến nay toàn thị trường có khoảng 70.000 đại lý bán bảo hiểm chuyên nghiệp.

–      Huy động được một lượng lớn nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư phục vụ cho sự phát triển kinh tế.

–      Đa dạng hóa các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và các dịch vụ phù hợp với nhu cầu của người dân. Cho đến nay trên thị trường đã có khoảng 30 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Ngoài bảo hiểm nhân thọ, các doanh nghiệp còn

cung cấp thêm các dịch vụ khác cho khách hàng như tư vấn du học, cho khách hàng vay tiền theo hợp đồng, thẻ giảm giá, phiếu mua hàng…

Cùng với sự phát triển các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, các kênh phân phối sản phẩm cũng ngày càng đa dạng hóa và hoàn thiện. Ngoài kênh phân phối truyền thống là đội ngũ đại lý chuyên nghiệp, các công ty bảo hiểm đang bắt đầu triển khai bán bảo hiểm nhân thọ qua hệ thống ngân hàng, qua mạng internet. Đội ngũ đại lý sau một thời gian hoạt động cũng dần trở nên chuyên nghiệp và bài bản hơn trong việc tiếp cận và tư vấn cho khách hàng.

Mặc dù đạt được những thành công như vậy, thị trường bảo hiểm nhân thọ của Việt Nam được đánh giá là vẫn đang trong quá trình hình thành và ổn định, khả năng khai thác vẫn còn rất lớn và đa dạng. Đây là một thị trường vẫn còn rất nhiều tiềm năng với hơn 50% dân số ở độ tuổi dưới 25, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ và tỷ lệ phí thu/ GDP vẫn còn rất thấp so với các nước trong khu vực. Nếu như ở các nước trong khu vực, tỷ lệ phí bảo hiểm nhân thọ trung bình ở mức 5% GDP thì Việt Nam, con số này chỉ dừng lại ở mức rất khiêm tốn là 0,68%. Tính trung bình, tỷ lệ bảo hiểm tính theo đầu người ở Việt Nam cũng thấp ở mức kỷ lục so với các nước trong khu vực ($2,7/đầu người so với $50 tại Thái Lan và $100 tại Malaysia). Ngoài ra, người dân Việt Nam hiện nay có xu hướng tiết kiệm do tính ràng buộc chặt chẽ trong gia đình. Thêm vào đó, hệ thống phúc lợi xã hội chưa thể đáp ứng được nhu cầu của phần lớn dân cư sẽ càng làm phát sinh nhu cầu tiết kiệm cho tương lai con cái, thúc đẩy sự phát triển của bảo hiểm nhân thọ.

Một yếu tố thuận lợi nữa cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam là môi trường pháp lý. Luật Bảo hiểm ra đời và có hiệu lực năm 2001 đã tạo khung pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng, từng bước thiết lập và duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực bảo hiểm.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam còn có một số mặt hạn chế kìm hãm sự phát triển.

Do thị trường tài chính của Việt Nam còn chưa phát triển, tính thanh khoản rất thấp nên hoạt động đầu tư của các công ty bảo hiểm nhân thọ trong thời gian vừa qua vẫn rất hạn chế. Phần lớn hoạt động đầu tư chỉ dừng lại ở mức đặt tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng, ít rủi ro nhưng mang lại thu nhập rất thấp.

Một mặt hạn chế nữa là cơ sở hạ tầng về mặt thông tin còn lạc hậu, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn chủ yếu dựa vào tiền mặt nên việc thu phí bảo hiểm cũng như giải quyết các khiếu nại bồi thường sẽ gặp nhiều khó khăn và rủi ro hơn cho các công ty bảo hiểm nhân thọ. Thêm vào đó, hệ thống y tế kém hoàn thiện cộng với sự thiếu hụt các dữ liệu thống kê cần thiết cũng là những trở ngại cho việc phát triển bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam. Ngoài ra, hệ thống đào tạo các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm cũng chưa đầy đủ và chuyên nghiệp.

Với những thuận lợi và thách thức nêu trên, các công ty bảo hiểm nhân thọ đã và sẽ có mặt tại thị trường Việt Nam cần nắm rõ và vận dụng các nhân tố quyết định cho sự thành công sau đây:

1.   Mạng lưới phân phối rộng khắp: do bảo hiểm nhân thọ mới phát triển ở Việt Nam nên bất kỳ phương pháp phân phối nào đến được nhiều người sẽ đều tỏ ra rất có hiệu quả.

2.    Mức độ chuyên nghiệp của đội ngũ tư vấn bảo hiểm: đây sẽ là một yếu tố quyết định do người dân ngày càng hiểu biết hơn về bảo hiểm nhân thọ.

3.   Phát triển các sản phẩm theo hướng phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng khách hàng. Việc phát triển các sản phẩm đa dạng sẽ giúp đưa ra nhiều chọn lựa cho khách hàng cũng như thỏa mãn các nhu cầu đa dạng về mặt đầu tư của người mua bảo hiểm.

Xem thêm trong: Tài liệu chuyên môn