5:33 sáng - Thứ Hai Tháng Chín 16, 2019

Thị trường Bảo hiểm Việt Nam với việc mở cửa hội nhập

Vietinbank tham gia thị trường bảo hiểm nhân thọ

Vietinbank tham gia thị trường bảo hiểm nhân thọ

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM VỚI VIỆC MỞ CỬA HỘI NHẬP

Phùng Đắc Lộc
Tổng Thư Ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam http://tinbaohiem.com

I. ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM HIỆN NAY

Thị trường bảo hiểm Việt Nam
hoạt động ngày càng sôi động, nhộn nhịp, với tốc độ tăng trưởng khá cao. Năm 2002, tổng doanh thu đạt 7.707 tỷ đồng (tăng 48% so với năm 2001). Bảo hiểm nhân thọ đạt doanh thu 4.645 tỷ đồng (tăng 66% so với năm 2001) với số hợp đồng khai thác mới đạt 1.779.386 hợp đồng và tổng số hợp đồng đang có hiệu lực là 3.974.498 hợp đồng. Bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu năm 2002 là 3.062 tỷ đồng (tăng 34% so với năm 2001). Qua 9 tháng thực hiện, ước tính năm 2003, tốc độ tăng trưởng vẫn được duy trì như vậy 2002. Tuy nhiên, so với thu nhập quốc dân doanh thu bảo hiểm mới chiếm khoảng 1,6%.

Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam chưa nhiều: 13 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 5 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 3 công ty môi giới, 1 công ty tái bảo hiểm và một số văn phòng đại diện nước ngoài.

Đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, hầu hết nguồn vốn được hình thành ban đầu bằng vốn của nhà nước. Dẫn đầu là Bảo Việt có tiềm lực kinh tế vững mạnh với nguồn vốn chủ sở hữu hàng ngàn tỷ đồng, chuyên doanh bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, đầu tư, chứng khoán với hàng trăm sản phẩm bảo hiểm khác nhau.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm thị phần bảo hiểm phi nhân thọ chưa cao; chỉ có công ty Prudential là có những bước đi thành công trong chiếm lĩnh thị phần bảo hiểm nhân thọ (hiện đang xếp thứ hai sau Bảo Việt).

Các doanh nghiệp bảo hiểm vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhau trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nhiều khi mang tính gay gắt; nhất là những mảng thị trường màu mỡ như hàng không, dầu khí, tàu biển, xây dựng – lắp đặt, kỹ thuật …

II. TIỀM NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM

Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định bền vững trên 7%/năm, đường lối mở cửa hội nhập, phát triển kinh tế mọi thành phần của nhà nước, hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện đồng bộ, thu nhập dân cư ngày càng khá hơn là môi trường thuận lợi cho kinh doanh bảo hiểm phát triển.

Bảo hiểm phi nhân thọ có nhiều tiềm năng hứa hẹn. Mỗi năm ngân sách nhà nước đầu tư trên 200.000 tỷ đồng, đầu tư nước ngoài bình quân 1,5 tỷ USD, nguồn viện trợ ODA, đầu tư trong nước với các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu đô thị ở các địa phương đang trải thảm mời gọi các nhà đầu tư tạo tiềm năng cho bảo hiểm kỹ thuật, xây dựng – lắp đặt … Dư nợ tín dụng trên 300.000 tỷ, nhập khẩu trên 20 tỷ USD; đội tàu trên 2,5 triệu GRT, tài sản của ngành hàng không, điện lực, bưu chính viễn thông, dầu khí, xăng dầu … nếu tham gia bảo hiểm đầy đủ sẽ đem lại doanh thu không nhỏ cho các doanh nghiệp bảo hiểm.

Bảo hiểm nhân thọ: Việt Nam có tới trên 4 triệu người hưởng lương từ ngân sách nhà nước, hơn 10 triệu người hưởng lương từ các doanh nghiệp có nguồn thu nhập ổn định và ngày một khá hơn có thể tích luỹ tiết kiệm được. Đặc biệt có hơn 100.000 chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hơn 2 triệu hộ kinh doanh và đông đảo tầng lớp trung lưu (thu nhập trên 2 triệu đồng/tháng). Đây là nguồn tiềm năng khai thác bảo hiểm nhân thọ với những hợp đồng dài hạn.

III. QUAN ĐIỂM CỦA CHÍNH PHỦ VỚI THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM

Quyết định 175/2003/QĐ-TTg ngày 29/08/2003 đã phê duyệt chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2003-2010 đã thể hiện đường lối mở cửa, hội nhập của Việt Nam. Hiệp định thường mại Việt Mỹ được ký kết 13/07/2000, có hiệu lực 13/12/2002 ghi rõ lộ trình cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm là:

• Giới hạn về tiếp cận thị trường: 3 năm sau khi hiệp định có hiệu lực, phía Mỹ được thành lập liên doanh nhưng không quá 50% vốn góp pháp định, 5 năm sau được thành lập công ty 100% vốn Hoa Kỳ.

– Các công ty có vốn Hoa Kỳ không được kinh doanh dịch vụ đại lý bảo hiểm.
– Các công ty có vốn Hoa kỳ không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc. Điều này sẽ được bãi bỏ với công ty liên doanh sau 3 năm, công ty 100% vốn Hoa Kỳ sau 5 năm khi hiệp định có hiệu lực.
– Các công ty có vốn Hoa Kỳ phải tái bảo hiểm bắt buộc với Công ty tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam với tỷ lệ 20%. Điều này sẽ được bãi bỏ sau 5 năm hiệp định có hiệu lực.

• Giới hạn về đối xử quốc gia: Không hạn chế với dịch vụ cung cấp qua biên giới, sử dụng ở nước ngoài. Không hạn chế với hiện diện thương mại trừ bảo hiểm bắt buộc còn về sự hiện diện thể nhân, chúng ta chưa cam kết.

Việt Nam dự định gia nhập WTO vào 2005-2006 với lộ trình mở cửa của thị trường bảo hiểm chắc chắn sẽ căn cứ theo lộ trình của Hiệp định thương mại Việt Mỹ. Như vậy, việc mở cửa thị trường bảo hiểm Việt Nam là việc làm tất yếu để tuân thủ hiệp định đã cam kết.

IV. CÁC GIẢI PHÁP MỞ CỬA

Một là, cần củng cố, xây dựng hệ thống các doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam. Bảo hiểm là lĩnh vực kinh doanh dịch vụ tài chính nên mang tính chất nhạy cảm. Bảo hiểm nhân thọ thu hút nguồn vốn đầu tư trung dài hạn vào phát triển nền kinh tế không khác gì hoạt động tín dụng ngoại trừ phải chi trả khi có rủi ro bảo hiểm xảy ra. Sau khi xảy ra khủng hoảng tài chính Châu Á (cuối 1997), các nước AEAN rất thận trọng trong việc mở cửa thị trường bảo hiểm của nước mình. Thời gian thực hiện “quyền đối xử quốc gia” theo lộ trình của Hiệp định Thương mại Việt Mỹ trong lĩnh vực bảo hiểm không còn dài nữa. Chính vì vậy, Việt Nam cần tranh thủ thời gian này củng cố xây dựng các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đủ sức cạnh tranh khi đã mở rộng cửa; trong đó:

• Cần có một doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh giữ vai trò đầu tàu trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Việc này đồng nghĩa với định hướng xây dựng Bảo Việt thành một tập đoàn tài chính kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, chứng khoán, đầu tư tài chính, bổ sung vốn chủ sở hữu để đạt được 5.000 tỷ đồng, luôn giữ được vị trí hàng đầu về thị phần, đa dạng hoá sản phẩm, công nghệ hiện đại, lao động lành nghề.

• Cần có một doanh nghiệp cổ phần bảo hiểm Việt Nam đủ mạnh gần bằng với Bảo Việt bằng cách sáp nhập một số công ty bảo hiểm chuyên ngành hoặc cho phép một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty đang có ý định thành lập công ty bảo hiểm chuyên ngành trở thành cổ đông của công ty bảo hiểm nói trên.

• Cần cho phép thành lập thêm một số công ty bảo hiểm phi nhân thọ ngoài quốc doanh với qui mô vừa và nhỏ với những sản phẩm bảo hiểm và địa bàn hoạt động mà các doanh nghiệp bảo hiểm trên chưa chú ý tới.

• Cần cho phép thành lập thêm khoảng 7 công ty môi giới bảo hiểm tránh để tình trạng như hiện nay: có 2 công ty môi giới có vốn nước ngoài và một công ty môi giới Việt Nam, thiếu tính cạnh tranh.

• Đặc biệt cần cho phép thành lập thêm các công ty bảo hiểm nhân thọ của Việt Nam để cùng Bảo Việt nắm vững thị trường bảo hiểm nhân thọ bằng cách cho các ngân hàng thương mại quốc doanh hoặc các công ty tài chính của các tập đoàn kinh tế Tổng công ty 91 góp vốn thành lập.

Chúng ta sẽ lần lượt mở cửa thị trường bảo hiểm cho các nước theo thứ tự ưu tiên: Khối ASEAN, Châu Á, Châu Âu, Mỹ và ưu tiên những nước thuộc thị trường bảo hiểm lớn trên thế giới, những nước có vốn đầu tư trực tiếp – FDI -vào Việt Nam cao.

Theo kinh nghiệm của các nước trong khu vực Đông Nam Á, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm (trừ môi giới) nên có khoảng từ 30-50 doanh nghiệp là vừa đủ.

Hai là, cần tăng cường năng lực cạnh tranh và quản lý nhà nước. Để tăng cường năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt nam ngoài khâu xếp sắp lại doanh nghiệp, tăng vốn còn phải chú ý đến đào tạo cán bộ quản lý điều hành, cán bộ chuyên môn và đại lý bảo hiểm. Hiện nay, ngành bảo hiểm thu hút được trên 8.000 cán bộ và hơn 80.000 đại lý chuyên nghiệp. Số cán bộ bảo hiểm có trình độ đại học khoảng trên 50% nhưng mới có 20% được đào tạo cử nhân bảo hiểm trở lên. Ngoài các trường đại học, học viện đào tạo bảo hiểm, cần có một trường dạy nghề bảo hiểm tương đương với trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng. Đây là nguồn cung cấp nhân lực thường xuyên cho doanh nghiệp bảo hiểm. Bộ Tài chính đang xây dựng dự án đào tạo cán bộ bảo hiểm với nguồn kinh phí 2,7 triệu EURO vay của Châu Âu là một sự quan tâm thoả đáng của Chính phủ đối với ngành bảo hiểm.
Bên cạnh đó, cần trang bị cho ngành bảo hiểm phần mềm quản lý các thông tin về hợp đồng bảo hiểm, doanh thu phí bảo hiểm, bồi thường, quản lý đại lý, đầu tư và các rủi ro trong đầu tư. Hệ thống ngân hàng nhà nước trong ngày có thể cập nhật được dư nợ cho vay, thanh toán của các ngân hàng thương mại, thì hệ thống bảo hiểm càng cần thiết hơn những thông tin tổng hợp nói trên. Làm được như vậy sẽ có lợi cho cơ quan quản lý nhà nước, trước hết là Vụ Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nắm bắt được hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm. Đồng thời các doanh nghiệp không phải tự mình bỏ tiền ra mua phần mềm vừa đắt tiền vừa không đồng nhất với phần mềm của các doanh nghiệp bảo hiểm khác. Ngoài ra, nhờ có thông tin các doanh nghiệp có thể tính toán lại phí bảo hiểm, thị phần của từng sản phẩm bảo hiểm nguyên nhân gây ra tổn thất để làm tốt công tác đề phòng hạn chế tổn thất, nâng cao năng lực quản lý kinh doanh.

Nghị định 118/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2003 xử phạt hành chính trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm là cở sở để giám sát thanh tra xử lý những vấn đề nổi cộm trong hoạt động bảo hiểm như hạ phí bảo hiểm đến mức không tái bảo hiểm được, đào tạo và sử dụng đại lý, khả năng thanh toán …

Cuối cùng là cần kiện toàn lại Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, nâng cao vai trò và tăng thêm chức năng của Hiệp hội. Ngoài nhiệm vụ cầu nối giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với cơ quan quản lý nhà nước, Hiệp hội còn có thể tham gia vào các hoạt động đào tạo, hội thảo, mở rộng hợp tác với nước ngoài, tuyên truyền quảng cáo, đề phòng hạn chế tổn thất với tư cách thay mặt cho ngành bảo hiểm.

http://tinbaohiem.com

Xem thêm trong: Tài liệu chuyên môn