11:08 chiều - Thứ Sáu Tháng Tám 18, 2017

Thị trường Bảo hiểm Việt Nam sau khi gia nhập WTO Ba năm nhìn lại

Nguyễn Thế Anh
Trường ĐT&PTNNL-Vietinbank

Hơn 03 năm trở thành thành viên chính thức của WTO là một thời đoạn đặc biệt đối với ngành bảo hiểm Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Được đánh giá là một thị trường đầy triển vọng bởi Việt nam có tới hơn 85 triệu dân, nhưng chỉ có chưa đầy 10% số người Việt Nam mua bảo hiểm và chi phí cho bảo hiểm mới chiếm khoảng 2% GDP. Trong khi ở các nước Châu Á, tỷ lệ dân số mua bảo hiểm là khoảng 20 – 40%  và ở các quốc gia phát triển, chi phí cho bảo hiểm chiếm khoảng 10% – 15% GDP. Rõ ràng, “room” cho phát triển thị trường bảo hiểm ở Việt Nam vẫn còn rất lớn.

1. Những kết quả đạt được

Là một ngành mới nhưng bảo hiểm Việt Nam đã có tốc độ phát triển khá nhanh, đặc biệt kể từ sau khi chúng ta trở thành thành viên chính thức của WTO năm 2007. Ý thức về mua bảo hiểm của người dân tăng lên cộng với sự tham gia ngày càng nhiều của các công ty bảo hiểm nước ngoài đã đẩy nhanh tốc độ phát triển của thị trường nhưng cũng khiến mức độ cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, song lại khiến các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) Việt nam ngày càng quan tâm và chú trọng hơn tới việc nâng cao năng lực tài chính, chất lượng đội ngũ cán bộ bảo hiểm, phát triển công nghệ thông tin và nâng cao chất lượng dịch vụ. Hơn 03 năm gia nhập WTO, ngành bảo hiểm Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ sau:

– Một là, số lượng DNBH tăng nhanh qua các năm.

Năm 2006, cả nước mới có 37 DNBH nhưng đến tháng 06/2010, con số này đã lên tới 50 doanh nghiệp với đầy đủ các loại hình sở hữu (DNNN, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty liên doanh). Nếu tính cả 02 doanh nghiệp đã được Bộ Tài chính đã chấp nhận về nguyên tắc là Công ty bảo hiểm phi nhân thọ Cathay Việt Nam và Công ty bảo hiểm nhân thọ Fubon Việt Nam thì tổng cộng đã là 52 doanh nghiệp.

Bảng 1: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm

Loại  hình DNBH

2006

2007

2008

2009

6T/2010

Phi nhân thọ

Trong nước

13

14

17

17

18

Nước ngoài

8

8

10

10

10

Nhân thọ

Trong nước

1

1

1

1

1

Nước ngoài

5

8

9

9

9

Liên doanh

1

1

1

Tái bảo hiểm

Trong nước

1

1

1

1

1

Nước ngoài

Môi giới

Trong nước

5

5

6

6

6

Nước ngoài

3

3

4

4

4

Tổng số DNBH

37

40

49

49

50


Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt nam

Như vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bảo hiểm của Việt Nam cũng có những bước tiến đáng kể. Số lượng các DNBH tăng lên cũng đồng nghĩa với mức độ cạnh tranh tăng lên, và nhờ đó, chất lượng các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm ngày càng hoàn thiện đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, đa dạng của người dân.

– Hai là, quy mô thị trường bảo hiểm ngày càng lớn

Cùng với sự tăng trưởng của cả nền kinh tế, sự gia tăng về số lượng các DNBH và sự thay đổi theo hướng tích cực trong nhận thức của người dân, doanh thu phí bảo hiểm của toàn ngành cũng tăng đều qua các năm với tốc độ tăng trung bình khoảng 20%/năm, quy mô thị trường ngày càng được mở rộng.

Bảng 2: Quy mô thị trường bảo hiểm

 

Chỉ tiêu

2006

2007

2008

2009

6T/2010

Doanh thu phí bảo hiểm (tỷ đồng), trong đó:

14.898

17.650

21.253

25.473

14.427

   – Phi nhân thọ

6.403

8.213

10.950

13.616

7.940

   – Nhân thọ

8.495

9.437

10.303

11.857

6.487

Doanh thu hoạt động đầu tư (tỷ đồng)

3.478

6.623

6.799

6.016

3.321

Đóng góp vào GDP (%)

1,74

2,12

2,31

2,3

Đầu tư trở lại nền kinh tế (tỷ đồng)

30.661

46.549

58.643

69.000


Nguồn: Báo cáo của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và Báo cáo thường niên của Bộ Tài chính 

Tính riêng từ đầu năm 2010 đến nay, cùng với đà phục hồi của nền kinh tế, thị trường bảo hiểm Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng khá cao. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, doanh thu đạt 8.241 tỷ đồng, tăng trưởng 28%. Hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm đều có tốc độ tăng trưởng khá, trong đó bảo hiểm cháy tăng 125%, bảo hiểm nông nghiệp 109%, bảo hiểm xây dựng lắp đặt 68%. Tại thị trường bảo hiểm nhân thọ, số lượng hợp đồng khai thác mới tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái. Tổng mức trách nhiệm các DNBH nhân thọ đang nắm giữ là 323,56 nghìn tỷ đồng, tăng 33%; tổng phí khai thác mới đạt 1.544 tỷ đồng, tăng 27%. Nhiều DNBH có doanh thu khai thác mới lên tới hàng trăm tỷ đồng. Tổng số tiền các DNBH chi trả quyền lợi cho khách hàng lên tới 1.546 tỷ đồng( ).

– Ba là, khâu giải quyết sau bán hàng đã được các doanh nghiệp quan tâm chú trọng hơn.                        

Đây có thể coi là một thay đổi đáng kể của các DNBH Việt Nam bởi nó thể hiện sự thay đổi trong tư duy của các DNBH. Sản phẩm bảo hiểm, dù tự thân nó đã có những điểm ưu việt, nhưng chỉ thế thôi thì chưa đủ để khách hàng thực sự quan tâm. Năng lực chuyên môn, tính chuyên nghiệp và lương tâm nghề nghiệp của người tư vấn, các dịch vụ trước và sau bán hàng của doanh nghiệp cũng là những yếu tố quan trọng để họ quyết định có ký vào các hợp đồng bảo hiểm hay không. Khách hàng đã được đặt lên vị trí cao nhất và việc xây dựng mối liên hệ khăng khít với khách hàng không chỉ thông qua các hoạt động chăm sóc khách hàng nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách hàng tìm hiểu thông tin, thắc mắc và khiếu nại, cũng như góp ý đều được nhanh chóng đáp ứng một cách đầy đủ và thuận lợi nhất, đồng thời trợ giúp và tư vấn để khách hàng có thể sử dụng một cách có hiệu qua các sản phẩm bảo hiểm khác nhau đã được các DNBH thực sự quan tâm. Sự coi trọng khách hàng còn thể hiện ở việc nhanh chóng hoàn tất các thủ tục bồi thường cho khách hàng trong thời gian ngắn nhất có thể.

– Bốn là, các DNBH Việt Nam đã từng bước đa dạng hóa các sản phẩm cũng như kênh phân phối trên cơ sở xác định rõ thị trường mục tiêu của mình.

Về sản phẩm bảo hiểm: bên cạnh các sản phẩm truyền thống, các DNBH đang nỗ lực để thiết kế thêm các sản phẩm mới, cả sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng như các sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư, các sản phẩm bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cao cấp với mức trách nhiệm cao, các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm rủi ro tài chính, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm liên kết chung (Univeral Life), bảo hiểm liên kết đơn vị (unit Link), bảo hiểm vi mô, bảo hiểm với số tiền bảo hiểm lớn, bảo hiểm với số tiền bảo hiểm thấp… Tính chung hiện nay, trên thị trường có khoảng hơn 500 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ và hơn 200 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phục vụ cho các đối tượng khách hàng khác nhau.

Về kênh phân phối: cùng với các kênh phân phối chủ yếu là thông qua các đại lý, các kênh chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp, các DNBH cũng đang triển khai. các DNBH bước đầu đã hình thành và triển khai một số kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm trực tuyến (qua mạng, điện thoại…).

Bảng 3: Các kênh phân phối sản phẩm chủ yếu ở Việt Nam

Kênh truyền thống

Kênh trực tiếp

Kênh mới

Đại lý

Cán bộ bảo hiểm

Ngân hàng

Môi giới

Điện thoại

Công ty tài chính

Đại diện thương mại

Thư tín, Internet

Cửa hàng hợp tác …

– Năm là, các DNBH Việt Nam đã chủ động nâng cao năng lực để có thể cạnh tranh bình đẳng với nhau và với các DNBH nước ngoài, đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ.

Các doanh nghiệp đều đã chủ động rà soát sửa đổi bổ sung quy tắc điều khoản, biểu phí, phát triển sản phẩm mới mang tính đặc thù, hoàn thiện quy trình quản lý nghiệp vụ, quy trình thủ tục giải quyết bồi thường nhằm phục vụ khách hàng tốt nhất, mà vẫn đảm bảo quản lý chặt chẽ từ khâu khai thác đến giải quyết bồi thường.

Doanh thu phí bảo hiểm gốc trên thị trường   bảo hiểm phi nhân thọ 6 tháng năm 2010

Doanh thu phí bảo hiểm gốc trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ 6 tháng năm 2010

Để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp đã tăng cường việc giám sát chất lượng phục vụ, mở rộng hệ thống đại lý, liên doanh liên kết, tạo ra nhiều sản phẩm mới… nhằm giữ vững và từng bước mở rộng thị phần. Năm 2007, mới có hơn 43.000 đại lý bảo hiểm nhân thọ thì đến cuối năm 2009, con số này đã tăng gấp hơn 2 lần lên gần 95.000 đại lý.

– Sáu là, hành lang pháp lý về kinh doanh bảo hiểm đã và đang được hoàn thiện nhằm đáp ứng với yêu cầu thực tiễn và phù hợp với các cam kết hội nhập.

Trước những yêu cầu cấp bách về thực tiễn phát triển của ngành dịch vụ bảo hiểm và những đòi hỏi ngày càng cao của hội nhập quốc tế, từ năm 2007 đến nay, hàng loạt các chính sách đã được ban hành( ), từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho thị trường này theo hướng rõ ràng, minh bạch, tăng cường thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các hình vi vi phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm. Chính phủ cũng quyết định chuyển Vụ bảo hiểm thành Cục quản lý và giám sát bảo hiểm nhằm nâng cao vai trò quản lý, giám sát thị trường bảo hiểm.

2. Những vấn đề còn tồn tại

– Một là, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp vẫn tồn tại như giảm phí, mở rộng điều kiện bảo hiểm, tăng mức khấu trừ… Công tác giải quyết bồi thường đôi khi còn phức tạp, gây khó khăn cho khách hàng. Tình trạng trục lợi bảo hiểm diễn ra ngày càng nhiều với quy mô ngày càng lớn( ) nên hiệu quả kinh doanh bảo hiểm gốc không cao. Mặt dù các DNBH có được mức tăng trưởng nhanh về mặt doanh thu nhưng chưa thực sự bền vững, chưa chú trọng đến chất luợng và hiệu quả kinh doanh. Thêm vào đó, các doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng công tác khai thác cũng như đánh giá rủi ro, đề phòng hạn chế tổn thất mà phần lớn vẫn chạy theo doanh thu.

Bảng 4: Số tiền bồi thường bảo hiểm các năm

Năm

Doanh thu

(tỷ đồng)

Số tiền bồi thường

(tỷ đồng)

Tỷ lệ bồi thường

(%)

2008

21.194

9.083

42,86 %

2009

25.473

10.323

40,53 %

06/2010

14.427

3.985

27,62 %


Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt nam

– Hai là, chưa tạo ra những kênh hữu hiệu để tuyên truyền rộng rãi mục đích, ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm khiến phần lớn khách hàng tham gia bảo hiểm đều là do Nhà nước bắt buộc (chẳng hạn như khi vay vốn ngân hàng, xuất nhập khẩu…). Với một thị trường hơn 85 triệu dân như Việt Nam, tiềm năng là không nhỏ nhưng để khai thác được tiềm năng lớn lao này, việc tuyên truyền rộng rãi đến các tổ chức quần chúng nhân dân là một điều cần đặc biệt quan tâm đối với ngành bảo hiểm. Hiện nay, nhiều khách hàng tham gia bảo hiểm mang tính bị động, khi họ gặp rủi ro bản thân họ cũng không biết mình được bồi thường bao nhiêu, từ đó dẫn đến tranh chấp diễn ra khá phổ biến. Chính tình trạng không minh bạch trong các khâu và những yếu kém trong tuyên truyền đã dẫn đến tình trạng hoạt động của thị trường bảo hiểm, trong một chừng mực nhất định, vẫn thiếu tính chuyên nghiệp. Tình trạng này nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình hội nhập sâu rộng của ngành bảo hiểm.

– Ba là, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm, Hiệp hội bảo hiểm và các DNBH, vô hình chung đã tạo nên những ảnh hưởng không tốt đến môi trường kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm.    

– Bốn là, các DNBH còn thiếu định hướng dài hạn cho hoạt động kinh doanh, chưa đầu tư đúng mực vào công tác quy hoạch đào tạo – tuyển dụng – sử dụng cán bộ, công tác phát triển nghiệp vụ cũng như công tác dự báo thống kê và định phí. Đã có không ít sai phạm trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm bị phát hiện, điển hình là các sai phạm trong quản trị doanh nghiệp, vi phạm các quy định về cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm, thời hạn nộp phí, tái bảo hiểm, chi trả bồi thường và quyền lợi bảo hiểm, hoạt động đầu tư.

3. Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường bảo hiểm trong thời gian tới

Thị trường bảo hiểm muốn phát triển để đủ sức cạnh tranh trong thời gian tới, ngoài những hỗ trợ từ Chính phủ, các ban ngành và Hiệp hội bảo hiểm, quan trọng nhất vẫn là những nỗ lực của bản thân các DNBH.

– Thứ nhất, nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ khách hàng

Khách hàng là người quyết định trực tiếp đến lợi nhuận của mọi doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp cung cấp sản phẩm vô hình như sản phẩm bảo hiểm, vốn chủ yếu kinh doanh dựa trên niềm tin của khách hàng. Chất lượng phục vụ khách hàng có ý nghĩa quyết định đến việc khách hàng có tiếp tục sử dụng sản phẩm nữa hay không. Dịch vụ chăm sóc khách hàng chu đáo sẽ tạo được niềm tin của khách hàng, giúp các DNBH giữ được chân khách hàng làm gia tăng số lượng các hợp đồng tái tục khi hết hạn hợp đồng, đặc biệt là với những khách hàng truyền thống, những khách hàng lớn của doanh nghiệp. Việc giữ chân một khách hàng cũ có lợi hơn rất nhiều so với việc đi khai thác một khách hàng mới bởi không những tiết kiệm được chi phí khai thác ban đầu, mà khi họ tin tưởng và hài lòng về chất lượng dịch vụ, họ sẽ là “kênh tuyên truyền” hữu hiệu giúp doanh nghiệp có thêm những mới. Chất lượng phục vụ khách phải được quan tâm chú trọng từ khâu khai thác, đến khâu giám định và bồi thường.

– Thứ hai, coi trọng công tác đào tạo cán bộ

Con người là trung tâm của mọi sự phát triển, con người vừa là mục đích vừa là động lực cho sự phát triển. Một doanh nghiệp muốn có sự phát triển bền vững thì vấn đề cần phải quan tâm hàng đầu là công tác đào tạo và tuyển dụng nguồn nhân lực. Bảo hiểm là ngành kinh doanh dịch vụ đặc biệt, đòi hỏi những nhân viên làm trong lĩnh vực này phải có một trình độ và sự hiểu biết nhất định, có trình độ chuyên môn vững vàng. Thị trường bảo hiểm mới chỉ sôi động và thực sự phát triển trong mấy năm trở lại đây nên lực lượng lao động trong ngành bảo hiểm vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo bậc trung và bậc cao , nên chưa đáp ứng được yêu cầu khai thác thị trường rộng lớn. Vì vậy, các DNBH cần phối hợp với các đơn vị có liên quan (Hiệp hội bảo hiểm, Cục quản lý và giám sát bảo hiểm…) mở các lớp đào tạo cho phù hợp với trình độ đa dạng của cán bộ trong ngành như: Chương trình đào tạo cơ bản, chương trình đào tạo cán bộ chủ chốt để có đội ngũ cán bộ giỏi, chuyên sâu về nghiệp vụ.

– Thứ ba, đa dạng hoá kênh phân phối và sản phẩm bảo hiểm

Hiện nay các DNBH chủ yếu phân phối sản phẩm bảo qua ba kênh chủ yếu: qua cán bộ của chính doanh nghiệp đó, qua hệ thống ngân hàng và các công ty cho thuê tài chính và qua đại lý. Bên cạnh đó còn rất nhiều kênh mà các DNBH có thể khai thác được. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ như hiện nay thì các doanh nghiệp có thể mở rộng kênh phân phối qua mạng lưới Internet, với sự phát triển của thương mại điện tử thì việc mua bán các sản phẩm qua mạng không còn xa lạ. Hoàn thiện và phát triển sản phẩm bancassurance bởi đây là một trong những kênh phân phối đầy tiềm năng và hiệu quả.

Mặc dù ngày càng có nhiều người Việt nam ý thức về tầm quan trọng của bảo hiểm, song không phải ai cũng có thể tham gia một hợp đồng bảo hiểm với mức bồi thường đủ lớn để bù đắp những tổn thất về tài chính cho bản thân và gia đình nếu không may gặp rủi ro, tai nạn trong cuộc sống, nhất là với những người có mức thu nhập trung bình hoặc thấp. Hơn nữa, xã hội ngày càng phát triển thì con người cũng ngày càng quan tâm hơn đến bảo hiểm để tạo ra sự yên tâm, vững vàng về tài chính cho cả gia đình khi những điều không may xảy ra. Vì thế, đa dạng hóa các sản phẩm phục vụ cho nhiều đối tượng mà vẫn hài hòa hóa được các yếu tố từ tài chính, bảo vệ con người và phù hợp với xu hướng phát triển chung của xã hội là yêu cầu bắt buộc đối với DNBH nếu muốn duy trì và bảo vệ được thị phần của mình.

– Thứ tư, các DNBH Việt Nam cần tăng cường hợp tác với nhau và xa hơn nữa cần hợp tác với các DNBH lớn từ các nước phát triển.

Nói đến nền kinh tế thị trường tất yếu phải có sự cạnh tranh. Cạnh tranh không phải để chia rẽ, phân hóa các DNBH mà cạnh tranh sẽ là tiền đề để các DNBH tiến tới hợp tác song phương và đa phương để phát huy tổng hợp sức mạnh của nhau. Ngoài ra, các doanh nghiệp cần hợp tác với nhau trong việc xây dựng dữ liệu quản lý bảo hiểm, đánh giá rủi ro, phân tích rủi ro, cung cấp về thông tin bồi thường, nguyên nhân tổn thất và phòng chống trục lợi bảo hiểm. Mặt khác, thị trường bảo hiểm Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của sự phát triển, do đó cần rất nhiều kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm triển khai cũng như những kiến thức cơ bản cũng như chuyên sâu về bảo hiểm từ các nước phát triển (Mỹ, Anh, Pháp …). Một số DNBH đã chọn đối tác chiến lược là những tập đoàn bảo hiểm, tài chính hàng đầu quốc tế( ) để vừa huy động được nguồn vốn lớn, vừa tiếp thu được kinh nghiệm và công nghệ quản lý tiên tiến. Ngoài ra các doanh nghiệp cần phải thường xuyên trao đổi, hợp tác với các DNBH nước ngoài, để đưa sản phẩm bảo hiểm vươn xa trên thị trường thế giới, hội nhập cùng nền kinh tế Việt Nam. 

Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực của các DNBH, cần và rất cần có những hỗ trợ từ các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm nhằm tạo ra một “sân chơi” bình đẳng hơn, thông thoáng hơn, thuận lợi hơn và an toàn hơn cho các DNBH. Ngoài việc đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong các chính sách, các quy định, tính hiệu quả trong công tác kiểm tra giám sát, xử lý vi phạm, cần nâng cao hơn nữa vai trò và chức năng của Trung tâm đào tạo bảo hiểm thuộc Cục Quản lý và Giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) và phát huy hơn nữa vai trò của Hiệp hội bảo hiểm với tư cách là cầu nối thực sự giữa các DNBH với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan giám sát thị trường bảo hiểm và giữa các DNBH với nhau cũng như với các các phương tiện truyền thông đại chúng, các báo đài lớn có uy tín trong việc phổ biến, tuyên truyền rộng rãi mục đích, tác dụng và vai  trò của bảo hiểm.

Rõ ràng, chúng ta không thể chờ những tác động không mong muốn xảy đến mà cần nắm bắt những cơ hội và hạn chế những thách thức bằng cách tăng cường tính chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động của chính mình. Chỉ có như vậy, chúng ta mới đảm bảo được sẽ không mất thị phần vào tay các DNBH nước ngoài khi chúng ta tham gia vào “sân chơi toàn cầu” với “luật chơi” khắt khe hơn và nhiều đối thủ mạnh hơn rất nhiều. So với yêu cầu, thách thức của việc hội nhập quốc tế, ngành bảo hiểm Việt Nam còn nhiều việc cần phải làm, song sự đồng thuận và những nỗ lực quyết tâm cả từ phía Chính phủ lẫn bản thân các DNBH và Hiệp hội hội bảo hiểm, hy vọng ngành bảo hiểm Việt nam sẽ có những thay đổi mang tính quyết định để phát triển một cách vững chắc trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế./.

nguồn vietinbankschool.edu.vn

Xem thêm trong: Tài liệu chuyên môn