5:33 sáng - Thứ Năm Tháng Bảy 9, 2020

Rủi ro xã hội và các đảm bảo bảo hiểm

Hưởng trợ cấp thất nghiệp một lần

Hưởng trợ cấp thất nghiệp một lần

XOAY QUANH VẤN ĐỀ PHI TẬP TRUNG HÓA QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÁC ĐẢM BẢO BẢO HIỂM CHO RỦI RO XÃ HỘI VÀ VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

NGUYỄN TIẾN HÙNG

Bộ môn Bảo hiểm – ĐHKT TP.HCM

RỦI RO XÃ HỘI VÀ CÁC ĐẢM BẢO BẢO HIỂM CHO RỦI RO XÃ HỘI

a. Rủi ro xã hội

Rủi ro xã hội là các rủi ro gắn liền với các biến cố có thể làm giảm thu nhập hoặc tăng các chi phí của một cá nhân trong xã hội như: ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già, tử vong, bị thải loại (thất nghiệp).

b. Các đảm bảo bảo hiểm cho rủi ro xã hội

An sinh xã hội và bảo hiểm xã hội 

Rủi ro xã hội được đảm bảo trước tiên bởi hệ thống an sinh xã hội nói chung, bảo hiểm xã hội nói riêng. An sinh xã hội là tổng hợp những sự bảo vệ đa dạng vốn đã được thực hiện rãi rác ở nhiều nơi trên thế giới từ lâu trong suốt quá trình phát triển của xã hội loài người.Tuy nhiên, thuật ngữ này được chính thức khai sinh với tư cách là tiêu đề của một đạo luật ở Hoa kỳ (Luật 1935 về An sinh xã hội), chỉ sự bảo vệ trong bốn trường hợp: tuổi già, chết, tàn tật và thất nghiệp. Năm 1938, New Zealand cũng dùng từ này để đặt tiêu đề cho một đạo luật quy định về các chế độ trợ cấp xã hội đang áp dụng thời đó ở quốc gia nầy. Năm 1952, Hội nghị toàn thể của Văn phòng Lao động Quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước 102 về An sinh xã hội.

Theo ILO, khái niệm “An sinh xã hội” chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, bằng một loạt những biện pháp công cộng, chống  đỡ  sự  hẫng hụt về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình có con nhỏ. Hệ thống an sinh xã hội được xây dựng có sự khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, có thể thấy những cơ chế chủ yếu của nó bao gồm: bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội (còn gọi là cứu tế xã hội), các chế độ trợ cấp từ  quỹ công cộng, các chế độ trợ cấp gia đình, các quỹ dự phòng, sự bảo vệ do người sử dụng lao động cung cấp, các dịch vụ liên quan đến an sinh xã hội. Trong các cơ chế chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội là trụ cột quan trọng thứ nhất, tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người lao động làm công ăn lương trong xã hội. Các chế độ của bảo hiểm xã hội đã hình thành khá lâu trước khi xuất hiện thuật ngữ an sinh xã hội. Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng Hòa Liên Bang Đức) dưới thời của Thủ tướng Bis-mac (1850) và sau đó được hoàn thiện (1883-1889) với chế độ bảo hiểm ốm đau; bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp; bảo hiểm tuổi già, tàn tật và sự hiện diện của cả ba thành viên xã hội: người lao động; người sử dụng lao động và nhà nước. Kinh nghiệm về bảo hiểm xã hội ở Đức, sau đó, được lan dần sang nhiều nước trên thế giới, đầu tiên là các nước Châu Âu (Anh: 1991, Ý: 1919, Pháp: từ 1918 …), tiếp đến là các nước Châu Mỹ Latinh, Hoa Kỳ, Canada (từ sau 1930) và cuối cùng là các nước Châu Phi, Châu Á (giành độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ 2).

Theo  tổng kết của ILO ( công ước 102 năm 1952), bảo hiểm xã hội bao gồm 9 chế độ chủ yếu sau: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất. Công ước cũng nói rõ là những nước phê chuẩn công ước này có quyền chỉ áp dụng một số chế độ, nhưng ít nhất phải áp dụng một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật hoặc trợ cấp tử tuất. Việc áp dụng bảo hiểm xã hội trên của quốc gia khác nhau thường cùng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong  việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản lí có thể đáp ứng, tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế – xã hội, bảo hiểm xã hội sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ. Theo thống kê của ILO, đến năm 1981, có 139 nước có thực hiện hệ thống an sinh xã hội nói chung, bảo hiểm xã hội nói riêng, trong đó có 127 nước có chế độ trợ cấp tuổi già, tàn tật và tử tuất; 79 nước có chế độ trợ cấp ốm đau và thai sản, 136 nước có chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, 37 nước có chế độ trợ cấp thất nghiệp.

Ở Việt Nam xét từ năm 1945 đến nay, chúng ta gần như đã thực hiện đầy đủ các chế độ cần có của cơ chế bảo hiểm xã hội và rất nhiều cơ chế khác của an sinh xã hội mà các quốc gia khác trên thế giới đang thực hiện. Hệ thống này tương đối phức tạp bao gồm: bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, chăm sóc xã hội, dịch vụ xã hội và các đảm bảo khác. Trong đó, nội dung thực hiện bảo hiểm xã hội ở Việt Nam theo quy định tại chương XII LUậT lao động (được Quốc hội thông qua ngày 23/06/1994) bao gồm 5 chế độ sau: chế độ ốm đau; chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ hưu trí; chế độ tiền tử. Ngoài ra, người lao động còn được hưởng chế độ chăm sóc y tế (khám và chữa bệnh) theo điều lệ bảo hiểm y tế. Và đặc biệt là kể từ ngày 21/03/2001, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội còn được hưởng chế độ trợ cấp nghỉ dưỡng sức (Quyết định số 7/2001/QĐ–TTg của Thủ tướng Chính phủ). Việc thực hiện bảo hiểm xã hội được tiến hành theo 2 hình thức: bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện áp dụng cho hai nhóm đối tượng khác nhau: nhóm người lao động làm công ăn lương và nhóm người lao động tự do (không có người sử dụng  lao động ổn định).

Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong những năm  gần đây  đã đạt được những thành tựu nhất định. Năm 1995, bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp nhận 2,85 triệu người lao động tham gia, chủ yếu là công chức nhà nước và lực lượng vũ trang, đến năm 2002 số người tham gia bảo hiểm xã hội là 4,7 triệu người. Số thu bảo hiểm xã hội cũng tăng tương  ứng qua các năm, năm 1995 đạt 800 tỷ VNĐ thì năm 2002 đã đạt trên 6.700 tỷ VNĐ, tăng hơn 8 lần. Việc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội tăng từ 800 tỷ VNĐ lên đến 2.300 tỷ vào năm 2002. Hiện nay, quỹ bảo hiểm xã hội có số tồn tích khoảng 27.000 tỷ VNĐ. Bảo hiểm y tế Việt Nam (hiện đã sát nhập vào BHXH VN) hiện nay đảm bảo cho hơn 16% dân số Việt nam chế độ khám chữa bệnh, Nguồn thu của bảo hiểm y tế Việt Nam đạt gần 1.300 tỷ (Nguồn số liệu: Bảo hiểm xã hội Việt nam).

Tuy nhiên, xét quá trình hình thành và phát triển của hệ thống này ở Việt nam chúng ta có thể nhận thấy những tồn tại sau:

Một là, do ảnh hưởng của chiến tranh liên miên, kinh tế – xã hội không ổn định, thay đổi qua nhiều thời kỳ dẫn đến tình trạng nội dung các chế độ đảm bảo của bảo hiểm xã hội nói riêng, an sinh xã hội nói chung có tính  ổn định không cao, đôi lúc chạy theo việc giải quyết nhu cầu xã hội trước mắt, chứ không được xây dựng có hệ thống, lâu dài.

Hai là, do cơ chế quản lý kinh tế – xã hội theo kiểu tập trung bao cấp nên một thời gian dài, cũng như các vấn đề khác, bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội với rất nhiều chế độ đều gần như được bao cấp miễn phí từ nhà nước, cơ chế huy động từ nhiều phía vốn có và vốn là thế mạnh của hệ thống này không được vận dụng. Điều này, một mặt, là gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong điều kiện xây dựng và phát triển kinh tế thời chiến, khủng hoảng kinh tế kéo dài, một mặt, không thể đáp ứng nhu cầu đảm bảo tốt cho các đối tượng được đảm bảo trong xã hội, nếu có chỉ trong một nhóm nhỏ, thời gian ngắn rồi không có điều kiện tiếp tục duy trì.

Ba là, một thời gian dài, cũng do đặc điểm cơ chế quản lý kinh tế xã hội, chế độ đảm bảo của bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội chỉ mới chăm lo cho công nhân – viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang, người có đóng góp cho cách mạng chứ chưa thực sự mở rộng đảm bảo cho mọi người lao động và toàn dân trong xã hội.

Hiện nay, hệ thống an sinh xã hội nói chung, hệ thống bảo hiểm xã hội nói riêng ở Việt Nam đã bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới và đang đứng trước một đói hỏi bức bách là phải nhanh chóng hoàn thiện các chế độ đảm bảo (số  lượng, nội dung đảm bảo, nguồn huy động …), nhằm đảm bảo tốt cho mọi người lao động  (hưởng lương và cả tự do, công chức nhà nước lẫn hợp đồng lao động với mọi chủ sử dụng lao động khác) trong một điều kiện mới (kinh tế thị trường, phát triển khu vực kinh tế tư nhân, hòa nhập quốc tế).

Bảo hiểm thương mại

Các rủi ro xã hội còn có thể được đảm bảo bởi các dịch vụ của các nhà bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại. Các sản phẩm bảo hiểm thuộc loại hình bảo hiểm con người như bảo hiểm cho rủi ro tai nạn, bệnh, các loại bảo hiểm nhân thọ cung cấp những đảm bảo bổ sung, để cùng với hệ thống an sinh xã hội bảo đảm tốt hơn cho con người. Các loại đảm bảo này cũng có lịch sử ra đời khá lâu (từ cuối thế kỷ 19) nhưng chỉ thật sự phát triển mạnh mẽ từ vài thập niên gần đây.

Bảng 2: Tình hình bảo hiểm nhân thọ một số quốc gia

Bảng 1: Doanh thu bảo hiểm toàn thị trường thế giới (Triệu USD)

Tuy nhiên, không giống như an sinh xã hội dựa trên sự đoàn kết, tương trợ và có vai trò quan trọng của nhà nước nên có thể đảm bảo cho một phạm vi rủi ro xã hội rất rộng bao gồm cả những rủi ro liên quan đến vấn đề gia đình, thất nghiệp dài hạn hoặc bị thải loại vì rủi ro mang tính chủ quan và hành vi xuất phát từ “rủi ro tinh thần” không cho phép đưa ra một tính toán khách quan, các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp một loại hàng hóa dịch vụ bảo hiểm chỉ có thể đảm bảo cho các rủi ro gắn liền với các sự cố khách quan và có thể tính toán được như các rủi ro về sức khỏe, tuổi già, rủi ro mất khả năng thanh toán cho một khoản tín dụng tiêu dùng do thất nghiệp tạm thời …

Việc đảm bảo cho các rủi ro con người chiếm một tỷ trọng lớn và là phần quan trọng trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại trên toàn thế giới, đặc biệt trong hai thập niên gần đây nhất.

Ở các quốc gia công nghiệp phát triển, mặc dù ở đó hệ thống an sinh xã hội – bảo hiểm xã hội hình thành rất sớm, hoàn thiện và đặc biệt là được quản lý theo mô hình tập trung đối với toàn dân, nhưng lĩnh vực bảo hiểm con người của bảo hiểm thương mại không phải vì vậy mất vai trò mà phát triển rất mạnh chiếm vị trí đáng kể trong đời sống kinh tế – xã hội. Chúng ta có thể thấy qua bảng sau:

Bảng 2: Tình hình bảo hiểm nhân thọ một số quốc gia

Bảng 2: Tình hình bảo hiểm nhân thọ một số quốc gia

Nhưng cũng chính từ tình hình trên, người ta thấy rằng, chỉ 10 quốc gia công nghiệp phát triển đã chiếm đến hơn 80 % thi phần bảo hiểm nhân thọ toàn cầu. Điều này có nghĩa là, ở những quốc gia đang phát triển, đồng thời với hệ thống bảo hiểm xã hội ở các quốc gia này còn chưa hoàn thiện, nhiều người dân còn chưa được hưởng các đảm bảo y tế, xã hội tối thiểu, thì hệ thống đảm bảo cho rủi ro con người của bảo hiểm thương mại cũng còn rất yếu kém, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ thường lớn hơn thị trường bảo hiểm nhân thọ.

Nhìn chung, các rủi ro xã hội vì vậy chưa được đảm bảo một cách đầy đủ bởi cả “thành phần nhà nước” lẫn “thành phần doanh nghiệp”. Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có thể phân tích như sau:

Một là, do kinh tế kém phát triển nên chính phủ thiếu ngân sách để giải quyết vấn đề rủi ro xã hội thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội, dân chúng có thu nhập thấp nên khó lòng có thể tiếp cận dịch vụ bảo hiểm.

Hai là, về phương diện địa lý, các thiết chế bảo hiểm thường tập trung ở các khu vực đô thị và do vậy khó tiếp cận đối với dân cư nông thôn vốn thường chiếm đa số ở các quốc gia này.

Ba là, những khó khăn trong việc nắm bắt các thủ tục, các quy định vốn phức tạp đòi hỏi một trình độ kiến thức cơ bản mà đáng tiếc là một bộ phận lớn trong dân chúng chưa đạt được.

Ở Việt Nam, tình hình có sự khác biệt so với các nước đang phát triển trên thế giới, đặc biệt trong một vài năm gần đây. Song song với việc cải cách hướng tới hoàn thiện bảo hiểm xã hội từ  năm 1995, bảo hiểm thương mại Việt Nam cũng có nhiều cải cách quan trọng và đạt nhiều thành tựu trong việc đảm bảo cho các rủi ro xã hội.

Thi trường bảo hiểm nhân thọ phát triển nhanh với tốc độ cao và tạo ra sự tăng trưởng “bùng nổ”, năm 2002, theo số liệu của Hiệp hội Bảo hiểm Việt nam, doanh thu bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đạt 4.645 tỷ VNĐ chiếm tỷ trọng 60,27% trong tổng doanh thu bảo hiểm gốc toàn thị trường. Đây là điều gây ngạc nhiên cho nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới vì trước năm 1996, thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ duy nhất là bảo hiểm phi nhân thọ. Các công ty bảo hiểm nhân thọ đã và đang cung cấp nhiều sản phẩm đa dạng không chỉ giúp người dân bảo vệ mình trước những rủi ro mà còn cung cấp những chương trình tiết kiệm đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình một các ổn định và lâu dài. Hơn nữa, các rủi ro xã hội còn được các công ty bảo hiểm phi nhân thọ đảm bảo bằng các loại bảo hiểm tai nạn, sức khỏe hình thành ở Việt Nam từ những năm 80, 90 của thế kỷ trước như: bảo hiểm học sinh (1986), bảo hiểm tai nạn lao động (1987), bảo hiểm tai nạn cá nhân 24h/24h, bảo hiểm TNTTHS (1991), bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật (1992) … Năm 2002, doanh thu bảo hiểm gốc thu được từ những loại hình này đạt 484 tỷ VNĐ, chiếm 15,8% trong tổng phí bảo hiểm gốc phi nhân thọ (hiện nay, ở Việt nam có 10 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cung cấp loại dịch vụ nầy, trong đóï, 3 doanh nghiệp nhà nước, 3 công ty cổ phần, 3 liên doanh và 1 công ty 100% vốn nước ngoài). Như vậy tính chung cho cả hai lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ, tổng đảm bảo của bảo hiểm con người thuộc bảo hiểm thương mại cho các rủi ro xã hội đạt giá trị là 5.112 tỷ VNĐ.

Kết quả khả quan trên có thể thấy do một số nguyên nhân sau:

Một là, thành công của chính sách đổi mới dẫn đến kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định trong hơn một thập niên gần đây, thu nhập tăng tạo cơ sở kinh tế quan trong cho việc hình thành và sự dụng các quỹ dự trữ  bảo hiểm.

Hai là, sự mở cửa kịp thời thị trường bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ tạo điều kiện chuyển giao công nghệ  bảo hiểm đảm bảo cho rủi ro xã hội (Hiện nay, ở Việt Nam có 5 doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trong lĩnh vực nhân thọ, trong đó, 1 doanh nghiệp nhà nước, 1 Liên doanh và 3 công ty 100% vốn nước ngoài). Đặc biệt, các doanh nghiệp bảo hiểm đã có những nghiên cứu khá tốt để có thể triển khai những dịch vụ bảo hiểm khá phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội trong giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam, đặc biệt phù hợp với tình trạng thu nhập người lao động còn thấp.

Bảng 3: Dịch vụ bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp đảm bảo cho rủi ro xã hội năm 2002, theo khu vực và thành phần kinh tế

Bảng 3: Dịch vụ bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp đảm bảo cho rủi ro xã hội năm 2002, theo khu vực và thành phần kinh tế

Tình hình trên cũng cho thấy việc quản lý các đảm bảo bảo hiểm cho rủi ro xã hội có biểu hiện bước đầu của sự “phi tập trung hóa”, “thành phần doanh nghiệp” (có sự tham gia của tư nhân) đã có vai trò đáng kể. Một số mô hình “bảo hiểm cộng đồng” cũng đang được nghiên cứu, thử nghiệm như mô hình Quỹ nghĩa thương ở Hà Nội.

Bên cạnh đó, cũng cần thấy một số vấn đề cần quan tâm:

Mặc dù có sự tiến bộ đáng kể, nhưng các đảm bảo cho các rủi ro xã hội ở Việt Nam vẫn chưa cao, đặc biệt chưa tiếp cận đầy đủ đối với lực lượng dân nghèo, lao động nông nghiệp.

Việc phát triển hai hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thương mại có vẻ như là hai vấn đề độc lập nhau chứ không phải là hai công cụ trong một chiến lược thống nhất phát triển hệ thống đảm bảo bảo hiểm cho rủi ro xã hội nói chung nhằm tạo ra “sức lao động bền vững” cho một nền kinh tế – xã hội bền vững. Chính vì vậy, thiếu vắng hẳn sự phối hợp nằm bổ sung cho nhau, khắc phục mặt trái của nhau, tạo ra sự đảm bảo đầy đủ và hiệu quả với chi phí thấp nhất đứng ở góc độ toàn xã hội. Như vậy, việc phi tập trung hóa như đã đề cập ở trên lẽ nào là một sự tình cờ, tự phát? Thực sự, các hội tương tế (thành phần chuyên nghiệp) chưa có vai trò nổi bật trong việc cung cấp đảm bảo cho rủi ro xã hội ở Việt nam.

Xem thêm trong: Tài liệu chuyên môn