10:13 sáng - Chủ Nhật Tháng Mười Một 17, 2019

Năng lực bảo hiểm của Thị trường bảo hiểm Việt Nam

“Doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ vẫn tăng khá”

“Doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ vẫn tăng khá”

NĂNG LỰC BẢO HIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM TRƯỚC ÁP LỰC MỞ CỬA TỪ GÓC NHÌN TÁI BẢO HIỂM

THS. VÕ THỊ PHA

Bộ môn Bảo hiểm – Học viện Tài chính

I.        THẤY GÌ QUA NHỮNG CON SỐ ? 

Tái bảo hiểm là một mắt xích thứ cấp trong quy trình chuyển giao rủi ro của bảo hiểm – một phương pháp phân tán rủi ro mà nếu không sử dụng, các nhà bảo hiểm sẽ chỉ là những “người sản xuất nhỏ”. Số liệu về nhận và nhượng tái bảo hiểm là một trong những thước đo năng lực bảo hiểm thực sự của một doanh nghiệp bảo hiểm, một thị trường bảo hiểm.

Trong hàng loạt những số liệu mà Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam đã thống kê được, người đọc các bản tin hàng kỳ của Hiệp hội không khỏi trăn trở trước những con số về hoạt động tái bảo hiểm của thị trường bảo hiểm Việt Nam. Xin trích ngang một số thông tin từ  Bản tin số 04 – Năm 2002, đề cập trong bảng 1 và bảng  2.

Bảng 1: Số liệu về doanh thu phí nhận và nhượng tái bảo hiểm của toàn bộ thị trường bảo hiểm gốc Việt Nam – 2002

Số liệu về doanh thu phí nhận và nhượng tái bảo hiểm

Số liệu về doanh thu phí nhận và nhượng tái bảo hiểm

Hai bảng số liệu này cho thấy: trong bảo hiểm nhân thọ, hoạt động tái bảo hiểm không đáng kể. Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, phần phí nhượng tái ra nước ngoài (từ hoạt động tái bảo hiểm của các doanh nghiệp gốc: 718.392,01 triệu đồng; qua hoạt động nhượng tái bảo hiểm của VINARE: 349.319 triệu đồng) đã chiếm tỷ trọng quá lớn trong doanh thu phí bảo hiểm của toàn thị trường.

Bảng 2:  Số liệu về hoạt động của VINARE

Số liệu về hoạt động của VINARE

Số liệu về hoạt động của VINARE

Bảng 3: Doanh thu của một số doanh nghiệp bảo hiểm năm 2002

Doanh thu của một số doanh nghiệp bảo hiểm năm 2002

Doanh thu của một số doanh nghiệp bảo hiểm năm 2002

Về doanh thu từ phí bảo hiểm toàn thị trường: số liệu cho thấy đạt mức 3.095.594,35 = 3.062.348,64 (doanh thu phí bảo hiểm gốc) + 21.745,71 (nhận tái bảo hiểm từ nước ngoài từ các doanh nghiệp bảo hiểm gốc) + 11.500 (nhận tái bảo hiểm từ nước ngoài của VINARE). Nhìn sâu hơn cấu trúc doanh thu của 1 số doanh nghiệp bảo hiểm càng dễ nhận thấy những dấu hiệu bất ổn.  Ở bảng 3, nếu so sánh với số thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm ngoài nước năm 2002 của doanh nghiệp thứ nhất là 5.986,62 triệu đồng và của doanh nghiệp thứ hai là 3.659,37 triệu đồng với số liệu cột (5), sự bất ổn đã trở thành một sự thật đáng quan ngại.

II.       ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN

Nguyên nhân trực tiếp của tình trạng mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân “xuất nhập khẩu” dịch vụ bảo hiểm của thị trường bảo hiểm Việt Nam, cũng như của các doanh nghiệp bảo hiểm không nằm ngoài sự hạn chế về năng lực bảo hiểm. Sự hạn chế về nămg lực tài chính; trình độ, kinh nghiệm nghề nghiệp; công nghệ bảo hiểm v.v… là điều không thể tránh khỏi đối với một thị trường non trẻ.

Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là đâu đó vẫn tồn tại lối tư duy kinh doanh bảo hiểm khá thiển cận. Đó là sự hài lòng với số hoa hồng tái bảo hiểm có được từ việc chuyển nhượng dịch vụ bảo hiểm ra bên ngoài. Thậm chí coi hoa hồng tái bảo hiểm là lợi nhuận trong kinh doanh tái bảo hiểm. Thực ra, hoa hồng tái bảo hiểm (trong các hợp đồng tái bảo hiểm tỉ lệ) nếu được trả theo tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ: chi phí quản lý/phí “net”, người nhượng tái sẽ bị thiệt rất lớn và có thể dẫn đến tình huống: người nhượng tái bị thua lỗ, trong khi người nhận tái vẫn có lãi từ  kết quả kinh doanh nghiệp vụ tái. Hạn chế  về năng lực bảo hiểm dẫn đến mất cân đối trong nhượng và nhận tái bảo hiểm tiếp tục kéo theo những hệ quả không nhỏ.

–      Trước hết là hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. (Hãy so sánh số thu bồi thường từ nhượng tái bảo hiểm ra nước ngoài: 134.252,54 triệu đồng với số liệu doanh thu phí bảo hiểm gốc bị nhượng ra nước ngoài của các doanh nghiệp bảo hiểm gốc trong bảng 1).

–      Hơn thế, trong việc thỏa thuận về dịch vụ bảo hiểm, đặc biệt là giá phí bảo hiểm, các doanh nghiệp Việt Nam phải chịu áp lực lớn từ phía các nhà nhận tái nước ngoài, của môi giới tái bảo hiểm.

Đối với nền kinh tế quốc dân, tác dụng của ngành bảo hiểm thương mại trong việc phát huy vai trò trung gian tài chính để cung ứng một nguồn vốn quan trọng cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước đã bị giảm sút và mục đích của quy định trong khoản 2 – điều 98 – chương V – Luật kinh doanh bảo hiểm: “Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được sử dụng vốn nhàn rỗi của mình để đầu tư ở Việt Nam …” vô hình chung đã bị vô hiệu hoá phần nào.

Đối với người tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm, dù muốn hay không, phần nào đang bị lôi vào thế mạo hiểm. Tại sao? Điều này còn xuất phát từ điều 8 và điều 9 – mục 2 – Nghị định số 43/2001/NĐ-CP: “Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phải trích lập dự phòng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm của từng nghiệp vụ bảo hiểm đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm”; “Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phải trích lập dự phòng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm của từng hoạt động bảo hiểm nhân thọ đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm”. Trong đó phần trách nhiệm giữ lại chiếm tỷ trọng nhỏ,

dự phòng nghiệp vụ sẽ tương ứng, trong khi đó, về nguyên tắc doanh nghiệp bảo hiểm gốc phải “chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, kể cả trong trường hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm”; “Bên mua bảo hiểm không được yêu cầu doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm” – điều 27 – mục 1- Chương II – Luật kinh doanh bảo hiểm. Như vậy, cả hai nguy cơ mất khả năng thanh toán từ doanh nghiệp bảo hiểm gốc và doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm đang đe dọa người được bảo hiểm. Thực tế hiện nay, nhiều trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhượng tái phải trông chờ có được khoản thu bồi thường từ các nhà nhận tái mới có thể thực hiện được cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm.

III. LẠM BÀN CỐT CHỈ ĐỂ HƯỚNG TỚI GIẢI PHÁP HỢP LÝ

Sự phát triển với tốc độ “thần kỳ” của ngành kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam trong thời gian gần đây là một thực tế không thể phủ nhận. Song, sẽ là không công bằng nếu chỉ nhìn nhận vấn đề từ một phía. Song vì mục đích tìm ra giải pháp hợp lý, dù muốn hay không phải đối mặt với một thực tế: năng lực bảo hiểm thực sự của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam; của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn rất hạn chế so với “cầu bảo hiểm” thực tế và tiềm năng  ở Việt Nam; đó là chưa nói đến việc tiếp cận thị trường bảo hiểm quốc tế. Phải chăng đây là một vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý cần xem xét cho chiến lược phát triển ngành kinh doanh bảo hiểm cũng như  của từng doanh nghiệp bảo hiểm. Dù có nói cách nào đi chăng nữa, hội nhập quốc tế chỉ thực sự có lợi khi các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam có được vị thế bình đẳng trước các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài bằng chính năng lực bảo hiểm của mình và cán cân “xuất nhập khẩu” dịch vụ  bảo hiểm sẽ thăng bằng hoặc nếu có thể nghiêng về phía có lợi cho nền kinh tế Việt Nam.

Xem thêm trong: Tài liệu chuyên môn