8:37 sáng - Thứ Sáu Tháng Mười 24, 2014

Mô hình quản lý phi tập trung các đảm bảo bảo hiểm cho rủi ro

Năm 2011, VNI đạt 676 tỷ đồng doanh thu

Năm 2011, VNI đạt 676 tỷ đồng doanh thu

XOAY QUANH VẤN ĐỀ PHI TẬP TRUNG HÓA QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÁC ĐẢM BẢO BẢO HIỂM CHO RỦI RO XÃ HỘI VÀ VIỆC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

NGUYỄN TIẾN HÙNG

Bộ môn Bảo hiểm – ĐHKT TP.HCM

II. MÔ HÌNH QUẢN LÝ PHI TẬP TRUNG CÁC ĐẢM BẢO BẢO HIỂM CHO RỦI RO XÃ HỘI

a. Mô hình quản lý tập trung và phi tập trung

Rất nhiều nước công nghiệp phát triển áp dụng mô hình bảo hiểm xã hội bắt buộc cho toàn dân đối với nhiều loại rủi ro. Hệ thống bảo hiểm xã hội được hình thành và phát triển tại các nước công nghiệp phát triển trên cơ sở của mô hình “Nhà nước phúc lợi chung” hay nói khác hơn, bảo hiểm xã hội được quản lý chủ yếu theo hình thức tập trung. Tại các nước này, quyền lợi của người dân trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội gắn với quy chế nghề nghiệp của họ và mô hình trên được sử dụng như là một công cụ để quản lý phần lớn các loại rủi ro xã hội. Bảo hiểm xã hội được quản lý bởi một Hội đồng quản trị là cơ quan có quyền ban hành các quyết định có hiệu lực áp dụng trên toàn quốc, các quyết định này được chuyển xuống cho bảo hiểm xã hội ở các địa phương thi hành. Hiện nay, hệ thống bảo hiểm xã hội của nước Anh là trường hợp điển hình cho mô hình này.

Hình thức quản lý tập trung đối với bảo hiểm xã hội là hình thức chủ đạo ở các nước công nghiệp phát triển nhưng không phải là hình thức duy nhất,  bên cạnh đó, các nước này cũng áp dụng một số hình thức quản lý mang tính phi tập trung đối với hệ thống bảo hiểm xã hội. Cụ thể:

Thứ nhất, tính chất tập trung trong cơ chế quản lý bảo hiểm xã hội không có nghĩa là các cơ quan và chế độ bảo hiểm xã hội được tổ chức tập trung thống nhất theo ngành dọc. Ví dụ, bảo hiểm hưu trí bắt buộc, có sự tồn tại của một loạt các quỹ hưu trí khác nhau có quyền tự quản lý, tự hạch toán và mỗi quỹ có diện bảo hiểm bao gồm một ngành, nghề nhất định.

Thứ hai, bảo hiểm xã hội có thể được quản lý theo cơ chế tập trung nhưng lại được đặt trong bối cảnh của một nước theo cơ chế quản lý phi tập trung về hành chính. Ví dụ đối với các nước theo mô hình Nhà nước liên bang hay các nước giao quyền tự chủ lớn cho chính quyền địa phương, thì mỗi địa phương đều có thẩm quyền quyết định riêng trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội (như trường hợp của Tây Ban Nha, Italia, Đức và Canađa).

Thứ ba,  mô hình quỹ bảo hiểm xã hội trung ương  đã được thay bằng mô hình nhiều quỹ bảo hiểm xã hội cùng song song tồn tại, độc lập với nhau, cùng tham gia cung cấp dịch vụ bảo hiểm xã hội và người dân có quyền lựa chọn đăng ký bảo hiểm ở một trong các quỹ này.

Thứ tư, một số nước đang có xu hướng đưa mô hình quản lý phi tập trung vào trong hệ thống bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung trên phạm vi quốc gia, thông qua cơ chế ký kết hợp đồng giữa bảo hiểm xã hội trung ương và bảo hiểm xã hội của các địa phương.

b. Các “thành phần” quản lý trong mô hình phi tập trung

Tại các nước công nghiệp phát triển, hệ thống các đảm bảo bảo hiểm cho rủi ro xã hội được tạo thành từ sự kết hợp của nhiều bộ phận: có những bộ phận đặt dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước và có những bộ phận thuộc khu vực tư nhân.

Tiêu biểu nhất là sự kết hợp ba thành phần: “Thành phần nhà nước”, “thành phần chuyên nghiệp” và “thành phần doanh nghiệp”. Trong thành phần thứ hai và thành phần thứ ba, cơ chế quản lý chủ đạo là phi tập trung.

– Đối với “thành phần Nhà nước” (bảo hiểm bắt buộc), diện được bảo hiểm chỉ bao gồm một bộ phận dân chúng nhất định (người lao động hưởng lương) và một số rủi ro nhất định, điều này có nghĩa là bộ phận dân chúng còn lại không được bảo hiểm đối với các loại rủi ro đó. Tương tự, một số rủi ro xã hội cũng chưa được đảm bảo bởi thành phần này.

– Đối với thành phần thứ hai “thành phần chuyên nghiệp”, một số rủi ro xã hội được bảo hiểm (một cách bắt buộc hoặc tự nguyện) bởi những tổ chức xã hội gắn với ngành nghề nhất định, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có quy chế như một hiệp hội, ở đó tất cả các thành viên đều tham gia vào các quyết định tập thể. Các Hội bảo hiểm tương tế là những trường hợp điển hình cho loại tổ chức bảo hiểm tập thể này. Với các tổ chức bảo hiểm loại này, bảo hiểm xã hội được quản lý theo cơ chế phi tập trung đồng thời có sự tham gia của tất cả các hội viên vào quá trình quản lý mang tính tập thể. Hội bảo hiểm tương tế là một tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện: Các thành viên tự nguyện đóng góp vào hội để cùng phòng ngừa và giải quyết hậu quả của các rủi ro có thể xảy ra đối với hội viên và gia đình họ. Hội có toàn quyền quyết định về các vấn đề liên quan đến các hội viên của mình. Đại hội thành viên có thẩm quyền ban hành quyết định về những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến tổ chức, hoạt động của hội theo đề xuất của ban quản trị. Ban quản trị bao gồm đại diện do các hội viên bầu ra để điều hành hoạt động hàng ngày của hội.

– Thành phần thứ 3 “thành phần doanh nghiệp”. Đây là những doanh nghiệp bảo hiểm (chủ yếu là tư nhân) cung cấp các đảm bảo bổ sung nhằm đảm bảo đầy đủ hơn đối với các rủi ro xã hội cho những người đã được đảm bảo bởi thành phần thứ nhất, thành phần thứ hai. Doanh nghiệp bảo hiểm còn cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của những người không nằm trong diện bắt buộc phải được đảm bảo bổi thành phần thư nhất và thứ hai. Các đảm bảo này về cơ bản là tự nguyện. Ở các nước công nghiệp phát triển, doanh nghiệp bảo hiểm chiếm một tỷ trọng rất lớn trong lĩnh vực bảo hiểm cho các rủi ro xã hội. Các tổ chức này chính là nơi triển khai cơ chế quản lý phi tập trung đối với bảo hiểm xã hội, bởi mỗi tổ chức cung cấp một sản phẩm bảo hiểm khác nhau tuỳ theo lĩnh vực bảo hiểm họ tham gia kinh doanh và việc quản lý của các tổ chức này là hoàn toàn độc lập trên cơ sở tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan.

Thành phần thứ hai có thể tồn tại hoặc không tồn tại, hoặc nếu có tồn tại thì cũng rất khó phân biệt với thành phần thứ ba bởi có cùng các chế độ bảo hiểm như nhau. Bên cạnh đó, việc phân chia phạm vi bảo hiểm (phân chia các loại rủi ro được bảo hiểm, phân chia các đối tương được bảo hiểm) giữa ba thành phần cũng thay đổi tuỳ theo từng thời kỳ. Thành phần thứ nhất có thể có diện bảo hiểm rộng cho toàn dân nhưng chỉ bảo hiểm đối với những loại rủi ro cơ bản nhất, như vậy, đối với các rủi ro còn lại, thì đối tượng được bảo hiểm lại phải tìm đến thành phần thứ hai và thứ ba.

c. Ưu điểm của mô hình quản lý phi tập trung

– Ưu điểm thứ nhất đó là tính hiệu quả trong quản lý. Cơ chế quản lý phi tập trung cho phép thu các khoản đóng góp bảo hiểm một cách hợp lý hơn và cung cấp dịch vụ bảo hiểm có chất lượng tốt hơn (chi trả tiền bảo hiểm, tiền trợ cấp các loại, thanh toán phí dịch vụ cho các nhà cung cấp dịch vụ).

– Ưu điểm thứ hai: Cơ chế quản lý phi tập trung cho phép điều chỉnh kịp thời mức thu phí bảo hiểm và mức bảo hiểm phù hợp với điều kiện của địa phương.

– Ưu điểm thứ ba: Cơ chế quản lý phi tập trung cho phép thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa các thành viên tham gia bảo hiểm và những người quản lý bảo hiểm.

– Ưu điểm thứ tư: Giúp nhà nước giảm nhẹ gánh nặng trong việc quản lý hoạt động hàng ngày của các tổ chức bảo hiểm. Điều này hoàn toàn không đồng hóa với việc tư nhân hoá hệ thống đảm bảo bảo hiểm cho rủi ro xã hội. Các chuyên gia cho rằng tại các nước có thu nhập thấp, nhà nước không thể ôm đồm được tất cả mọi lĩnh vực vì không đủ nguồn tài chính và nhân lực. Nhưng điều này không có nghĩa là nhà nước bỏ rơi lĩnh vực bảo hiểm xã hội nói riêng và an sinh xã hội nói chung, mà đơn giản là nhà nước phải thay đổi phương thức quản lý của mình. Nhà nước thu hẹp sự can thiệp của mình để thu hút sự tham gia của xã hội vào việc quản lý các lĩnh vực trước đây vốn thuộc độc quyền quản lý của nhà nước.

d. Nhược điểm của mô hình phi tập trung

Bên cạnh những ưu điểm nổi bật trên, mô hình quản lý phi tập trung cũng bộc lộ một số nhược điểm:

– Nhược điểm thứ nhất liên quan đến quy mô bảo hiểm, nhất là đối với hình thức bảo hiểm cộng đồng (thành phần chuyên nghiệp). Giả thiết lý tưởng nhất là mỗi một làng, mỗi một khu phố, mỗi một ngành nghề đều thành lập một Hội bảo hiểm tương tế riêng cho mình. Nhưng đối với các tổ chức bảo hiểm quy mô nhỏ như vậy thì khả năng đảm bảo tài chính lâu dài là rất hạn chế. Như vậy, để tránh rủi ro, lại phải hình thành các tổ chức hay các cơ chế tái bảo hiểm, điều này làm mất đi tính đơn giản trong mô hình quản lý và tính tự nguyện của các thành viên khi tham gia tổ chức. Như chúng ta đều biết, các Hội tương tế được xây dựng dựa trên sự liên kết, kết hợp của nhiều nhóm người, nhiều tổ chức có quy mô khác nhau để đạt được một số lượng thành viên cần thiết cho việc thành lập Hội và xây dựng các công cụ quản lý ở cấp độ một liên hiệp các Hội tương tế. Điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng thực hiện được tại các nước có thu nhập thấp, vì những lý do gắn với điều kiện địa lý (khoảng cách địa lý), điều kiện kinh tế (chi phí giao dịch cao) và điều kiện xã hội (phụ thuộc vào việc các cộng đồng có muốn liên kết lại với nhau hay không?).

– Do mỗi tổ chức bảo hiểm có quyền tự quản, tự quyết định riêng và có những phương tiện hoạt động riêng, nên dễ gây ra tình trạng hoạt động không đồng bộ và kết quả đạt được cũng khác biệt nhau.

– Trong lĩnh vực bảo hiểm cho các rủi ro xã hội, sự cách biệt này cũng có nghĩa là đang tạo ra sự bất bình đẳng. Những nhóm người có điều kiện kinh tế thì sẽ tham gia vào các tổ chức bảo hiểm có mức chi trả rộng rãi, còn những nhóm người không có điều kiện kinh tế thì sẽ không đủ khả năng tiếp cận được các tổ chức bảo hiểm đó. Xét trên khía cạnh này, ưu điểm của cơ chế quản lý phi tập trung lại được bù trừ bằng nhược điểm là tạo ra sự bất bình đẳng giữa những nhóm người có điều kiện kinh tế và những nhóm người không có điều kiện kinh tế trong việc thụ hưởng các dịch vụ bảo hiểm. Rõ ràng, để khắc phục tình trạng này lại phải có vai trò can thiệp của nhà nước nhằm hạn chế sự bất bình đẳng do bản thân cơ chế quản lý phi tập trung gây ra. Xét trên khía cạnh nào đó, cần phải thừa nhận rằng hệ thống bảo hiểm cho rủi ro xã hội được quản lý theo cơ chế phi tập trung không phải dễ dàng áp dụng với điều kiện của các nước có thu nhập thấp, mà ở đó tỷ lệ người nghèo còn cao. Vì lực lượng này sẽ không có khả năng tiếp cận các đảm bảo của các Hội tương tế vì không có khả năng đóng góp, hoặc không có tiền để mua dịch vụ bảo hiểm của công ty bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại.

III. VẬN DỤNG MÔ HÌNH PHI TẬP TRUNG VÀO VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP

Mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam không chỉ hướng tới việc tăng trưởng kinh tế mà còn ổn định và tiến bộ xã hội. Việc phát triển và hoàn thiện hệ thống đảm bảo bảo hiểm cho rủi ro xã hội thể hiện sự phức hợp của cả hai mục tiêu lớn đó. Phát triển thi trường bảo hiểm thương mại trong đó có thị trường bảo hiểm con người (nhân thọ, tai nạn cá nhân và sức khỏe), hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội của nhà nước phải chăng là hai vấn đề độc lập thuộc hai chính sách độc lập: chính sách kinh tế – tài chính và chính sách xã hội? Những vấn đề lý luận và thực tiễn mà chúng tôi đề cập ở phần 1 và 2 nói trên cho thấy sẽ bất cập, và kém hiệu quả (cả về tài chính, kinh tế lẫn xã hội) nếu như không  tiếp cận tổng thể và tiến hành đồng bộ.

Với quan điểm đó, thiết nghĩ những vấn đề cần phải xem xét như sau:

Một là, cần xác định rõ mô hình quản lý hệ thống các đảm bảo bảo hiểm cho rủi ro xã hội: tập trung hay phi tập trung? Hiện nay, có vẻ như có biểu hiện trái ngược. Phía cơ quan bảo hiểm xã hội Việt Nam cho rằng việc bảo hiểm toàn dân mà trước tiên là bảo hiểm y tế toàn dân thuộc về chức năng – nhiệm vụ của bảo hiểm xã hội Việt Nam. Thực tế cho thấy, hàng năm các công ty bảo hiểm thương mại qua các sản phẩm bảo hiểm tai nạn, bệnh (ở khu vực phi nhân thọ) và các sản phẩm riêng – bổ trợ (ở khu vực nhân thọ) cũng góp phần trang trải đáng kể chi phí chăm sóc y tế cho người dân trong điều kiện bảo hiểm y tế của bảo hiểm xã hội

Việt Nam chỉ mới chăm lo cho 16% dân số, và chỉ chi trả 80% chi phí y tế cho người tham gia bảo hiểm. Theo quan điểm chúng tôi, mô hình phi tập trung là phù hợp vì phi tập trung hóa đồng nghĩa với xã hội hóa làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong điều kiện còn nhiều khó khăn hiện nay. Trên thực tế, mô hình này đã được thực hiện khá thành công ở một nước chấu Mỹ Latinh. Tuy nhiên cần chú ý khắc phục những nhược điểm mà phần trên đã đề cập.

Hai là, trên cơ sở chọn mô hình phi tập trung, cần xác định rõ phạm vi mà “thành phần nhà nước” tức bảo hiểm xã hội Việt Nam phải tập trung thực hiện. Về rủi ro, đó là nhóm rủi ro có tính “chủ quan” hoặc xuất phát từ “biến cố cơ bản ”mà không thể bảo hiểm theo nguyên tắc của bảo hiểm thương mại: trợ cấp gia đình, thất nghiệp – bị thải loại ra ngoài lề xã hội. Về đối tượng, đó là những đối tượng thuộc diện bắt buộc (người lao động hưởng lương), và đặc biệt, những người nghèo khó trong xã hội. Giai đoạn trước mắt, cần củng cố, hoàn thiện việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho đối tượng này, chưa nên đầu tư tiền của và con người vào việc triển khai bảo hiểm xã hội tư nguyện, mà hãy dành phần nầy cho “thành phần chuyên nghiệp” và “thành phần doanh nghiệp” (đang có sẵn và phát triển rất mạnh mẽ). Khi điều kiện kinh tế đát nước và khả năng quản lý cho phép, việc mở rông phạm vi đảm bảo của “thành phần nhà nước” thậm chí quay trở về mô hình tập trung thiết nghĩ  là không khó.

Ba là, đối với bảo hiểm thương mại, cần phải:

– Trong phạm vi rủi ro và đối tượng cần “phi tập trung hóa” mạnh dạn, chủ động mở cửa để phát triển thị trường bảo hiểm con người để cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm dịch vụ bảo hiểm đảm bảo cho      đời sống của dân chúng. Nên nhớ rằng, thời gian để thực hiện việc này không còn nhiều, khi mà hiệp định thương mại Việt – Mỹ có hiệu lực, Việt nam gia nhập WTO thì các dịch vụ bảo hiểm có thể tự do cung cấp trực tiếp từ bên ngoài vào.

– Phi tập trung hóa không có nghĩa là tư nhân hóa. Một mặt, nhà nước cần kiểm soát chặt chẽ các doanh nghiệp bảo hiểm, chống hiện tượng kiếm lời quá đáng trong việc bảo hiểm cho rủi ro con người, đảm bảo việc huy động và sử dụng quỹ cho việc phục vụ lợi ích của người dân Việt nam và nền kinh tế Việt Nam, mặt khác, thông qua các đòn bẩy tài chính như ưu đãi về thuế khuyến khích các doanh nghiệp triển khai các loại hình bảo hiểm đa dạng, phù hợp cho nhiều nhóm dân cư khác nhau, đặc biệt phù hợp với tình trạng thu nhập còn thấp của người lao động Việt Nam nhằm thu hút nhiều người tham gia. Qua đó, doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ thực hiện được mục đích kinh doanh (có lợi nhuận) mà còn góp phần gián tiếp thục thi một chính sách xã hội lớn của nhà nước.

– Song song với việc nghiên cứu triển khai các quỹ tương tế (ví dụ quỹ nghĩa thương) theo vùng, cần nghiên cứu mô hình công ty bảo hiểm tương hỗ vốn có lịch sử lâu đời trong ngành bảo hiểm thế giới áp dụng cho việc đảm bảo các rủi con người theo ngành nghề.

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Tiến Hùng, Phác thảo lịch sử hình thành và bức tranh toàn cục hệ thống an sinh xã hội Việt nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Học viện Tài chính, Phân viện TP.HCM, tháng 8/2002.

2.        Alain Letourmy (Chuyên viên nghiên cứu cấp cao thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Cộng hòa Pháp – CNRS), Quản lý phi tập trung đối với hệ thống bảo hiểm xã hội và cơ chế huy động sự tham gia của người dân vào việc quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội  – Một mô hình phù hợp với các nước có thu nhập thấp, Diễn đàn kinh tế, tài chính Việt – Pháp, Khóa họp lần thứ tư, TP.HCM tháng 9/2003.

3.        Philippe Trainar (Giám đốc phụ trách các vấn đề kinh tế và tài chính Liên đoàn các công ty bảo hiểm Pháp – FFSA), Vị trí của ngành bảo hiểm trong việc gánh vác các rủi ro xã hội ở các nước chuyển đổi, Diễn đàn kinh tế, tài chính Việt – Pháp, Khóa họp lần thứ tư, TP.HCM tháng 9/2003.

4. Phạm Thành (Phó tổng giám đốc BHXHVN), Hệ thống bảo hiểm xã hội và chi trả các chi phí bảo hiểm y tế ở Việt nam, Diễn đàn kinh tế, tài chính Việt – Pháp, Khóa họp lần thứ tư, TP.HCM tháng 9/2003.

5.        Bản tin số 4/2002, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, Hà Nội 5/2003.

Xem thêm trong: Tài liệu chuyên môn