4:03 chiều - Thứ Tư Tháng Mười 24, 6074

Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm (Kỳ 1)

Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm (Kỳ 1)

Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm (Kỳ 1)

(Petrotimes) – Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đang có những sự thay đổi rộng khắp trên thế giới, tạo ra nhiều thách thức đối với khách hàng, doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) và cơ quan quản lý bảo hiểm các nước.

Kỳ 1: Thực tiễn tại các nước và Việt Nam

DNBH thực hiện đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một cao của chủ hợp đồng bảo hiểm, đồng thời tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Một mặt, các DNBH tăng cường hiệu quả kinh doanh thông qua việc tái cấu trúc hoạt động và tập trung vào những sản phẩm bảo hiểm mũi nhọn. Mặt khác, các doanh nghiệp này cũng luôn chú trọng công tác đảm bảo an toàn về mặt tài chính, tạo tâm lý an toàn đối với các khách hàng và cơ quan quản lý bảo hiểm.

Khi một DNBH bị phá sản, thông thường có hai cơ chế bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm gồm thứ tự ưu tiên phân chia tài sản của DNBH và việc thành lập Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm. Cơ chế ưu tiên phân chia tài sản cho phép chủ hợp đồng bảo hiểm được ưu tiên nhận bồi thường khi thanh lý tài sản đầu tư từ quỹ dự phòng nghiệp vụ, dự phòng toán học hoặc từ toàn bộ tài sản của DNBH bị phá sản. Tuy nhiên, cơ chế này bộc lộ nhược điểm là khó có khả năng chi trả đầy đủ các khoản nợ đối với chủ hợp đồng bảo hiểm. Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm do các DNBH bắt buộc phải đóng góp hàng năm có thể bù đắp được những tổn thất mà chủ hợp đồng bảo hiểm phải gánh chịu khi một DNBH bị phá sản dù đã được ưu tiên phân chia tài sản.
Trong thời gian gần đây, trên thế giới có một số nghiên cứu đáng chú ý về việc thành lập Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm. Năm 1988, Cummins nghiên cứu về mức đóng góp vào Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm tại Mỹ căn cứ theo mức độ rủi ro của DNBH để tránh những rủi ro về đạo đức. Năm 1999, Alan Sekiguchi đã nghiên cứu về tình hình thành lập Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm tại các nước OECD. Năm 2001, Takahiro Yasui đã có công trình nghiên cứu về những lý luận cơ bản và xây dựng cơ cấu Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm. Đồng thời tác giả cũng phân tích những lợi ích và hạn chế của quỹ, từ đó đưa các giải pháp để khắc phục những hạn chế đó. Năm 2002, Schneiter đã nghiên cứu thêm về lý luận cơ bản và cơ chế vận hành Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm trong điều kiện thực tế tại các nước khu vực Baltic. Năm 2003, Ủy ban Giám sát bảo hiểm Hongkong công bố nghiên cứu về tính khả thi của việc thành lập Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm tại Hongkong. Cũng trong năm này, Hội đồng Bảo hiểm Australia đã nghiên cứu và đề xuất về việc thành lập Quỹ Bảo đảm an toàn hệ thống tài chính trong đó bảo vệ quyền lợi của chủ hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp DNBH bị phá sản tại Australia. Năm 2005, Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) đã có nghiên cứu đánh giá Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm và đề xuất hướng hoàn thiện cơ chế này tại Singapore. Những nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích những hạn chế cũng như biện pháp để khắc phục các hạn chế khi thành lập Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm.

Trong thực tiễn, vai trò của Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm đã được khẳng định ở nhiều nước trên thế giới. Đối với các nước đang phảt triển có hệ thống quản lý thị trường bảo hiểm chưa hoàn chỉnh, trình độ dân trí chưa cao, doanh thu phí bảo hiểm chưa lớn như Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Ba Lan… đã hình thành Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm để bảo vệ quyền lợi của chủ hợp đồng bảo hiểm, tạo niềm tin cho họ để từ đó có thể phát triển thị trường bảo hiểm lành mạnh hơn. Không chỉ các nước đang phát triển mới cần đến Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm mà ngay cả các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Anh, Australia… cũng đang sử dụng cơ chế Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm để bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm, hạn chế phần nào những rủi ro tiềm ẩn từ thị trường bảo hiểm có tính cạnh tranh cao.

Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh như hiện nay, ngành bảo hiểm nói chung và các DNBH đang hoạt động tại Việt Nam cũng phải đối mặt với hàng loạt các thách thức lớn tương tự các thị trường bảo hiểm đang phát triển khác. Vấn đề đặt ra là có cần thiết phải xây dựng cơ chế đặc thù bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm tại Việt Nam thông qua việc thành lập Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm hay không và nếu cần thiết phải thành lập thì mô hình quỹ như thế nào là phù hợp. Vấn đề thành lập Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm (hay còn gọi là Quỹ Bảo vệ người tham gia bảo hiểm hoặc Quỹ Bảo vệ người được bảo hiểm) tại Việt Nam cho đến nay chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Để có thể nghiên cứu chính xác vấn đề trên, cần phải tiến hành tìm hiểu về những rủi ro tiềm ẩn từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lý luận cơ bản về việc thành lập Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm, kinh nghiệm thành lập Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm tại một số nước đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi cũng như tại các nước phát triển. Trên cơ sở đánh giá thực trạng bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm tại Việt Nam trong thời gian qua, đề xuất việc thành lập quỹ này tại Việt Nam nhằm đảm bảo phù hợp với thực tiễn tình hình trên thị trưởng bảo hiểm Việt Nam.

(Xem tiếp kỳ sau) Quỹ Bảo vệ chủ hợp đồng bảo hiểm (Kỳ 2)

Hà Chung
Petrotimes.vn

Xem thêm trong: Kinh doanh bảo hiểm